THƯ NGỎ

WELCOME TO TV6269

Các bạn thân mến,

Năm 1962 chúng mình bước vào Trưng Vương bằng những bước chân ngập ngừng của những cô bé lớp Đệ Thất ngây thơ. Rồi 7 năm học trôi qua những kỷ niệm với bạn bè, với Thầy Cô, với lớp học, với ngôi trường yêu dấu đã để lại trong ký ức của chúng mình tình bạn thân thiết và những kỷ niệm êm đềm, mơ mộng của một thời áo trắng TV.

Ngày nay tuy ở khắp mọi nơi, chúng mình đã tìm gặp lại nhau. Xin chào mừng tất cả các bạn và ước mong qua trang Blog Trưng vương 62-69 này sẽ là nơi gặp gỡ thân ái để TV6269 cùng ra chơi, vui đùa như ngày xưa trong sân trường yêu dấu.

TV6269







Thursday, October 11, 2012

CHUYỆN CỔ TÍCH - NHỮNG CÔ TIÊN NHỎ BÉ

Chuyện cổ tích Những cô tiên nhỏ bé .
Ngày xửa ngày xưa …
Trong xứ sở thần tiên có một khu rừng nhỏ xinh xinh . Cỏ nơi đây mềm như lụa . Cỏ xanh thắm dưới những tia nắng ban mai . Cỏ tinh nghịch đùa vui cùng gió . Cỏ lay động dịu dàng đem cảm giác yên bình cho muông thú . Hoa nơi đây rất đẹp . Hoa hồng với những cánh nhung đỏ mịn . Hoa mai rực rỡ màu vàng của nắng Xuân . Hoa lan ẩn hiện muôn vẻ kiêu sa . Và hoa dại thì rải rác khắp nơi như trang điểm cho khu rừng tăng thêm vẻ đáng yêu .
Khu rừng có một dòng suối trong vắt nhiều cá vàng bơi lội tung tăng . Hai bên bờ suối là nơi cư dân trong rừng cùng nhau nhảy múa dưới ánh trăng , hòa theo vũ điệu uyển chuyển của sáu cô tiên nhỏ bé . Mỗi cô tiên có một đôi cánh mỏng màu sắc khác nhau . Màu thiên thanh , màu cỏ non , màu hoàng kim , màu hồng phấn, màu xà cừ và màu mã não . Các cô tiên bay lượn cùng ong bướm , bay lượn giữa cỏ hoa , bay lượn trên mặt nước , rồi cười vang khanh khách . Trong không gian thanh tịnh , tiếng cười hồn nhiên hòa lẫn với tiếng suối róc rách làm cho khu rừng nhỏ tràn đầy hạnh phúc .
Vào một đêm trăng , mụ phù thủy ngồi trên cán chổi tình cờ bay ngang qua xứ sở thần tiên và nhìn thấy khu rừng nhỏ xinh xinh . Bà ta ganh ghét ném xuống một lời nguyền :
- Sẽ có một ngày nơi đây bốc cháy , lửa thiêu đốt các cô tiên , thiêu đốt tất cả cây lá cỏ hoa và thú rừng . Ngày đó là …
May mắn thay , Chúa Tiên xuất hiện . Thật ra , Bà là vị Nữ thần cai quản xứ sở thần tiên và khu rừng nhỏ cũng nằm trong quyền lực che chở của Bà . Chúa Tiên vẫy chiếc đũa thần trên tay để hóa giải lời nguyền độc ác :
- Ngày đó , là khi thời tiết đã trải qua đủ bốn mùa chứ không phải ngay bây giờ .
- Nếu các tiên nữ chịu rời khỏi nơi đây thì khu rừng không bốc cháy , tiên nữ và tất cả muôn thú đều được bình yên .
Sau khi Mụ Phù thủy bay đi cùng với con quạ đen xấu xí, Chúa Tiên đứng giữa thảm hoa nhiều màu rực rỡ , cho biết đã đến lúc các cô tiên rời khỏi cuộc sống này để đi đến nơi khác . Lúc các cô chưa đến , sẽ có những người gọi là cha mẹ đang chờ đợi . Khi các cô trưởng thành , sẽ có những chàng trai đón rước và cùng sống bên nhau mãi mãi trong hạnh phúc tuyệt vời  .
Có một cô tiên  thích biến hình thành một chú sóc nâu có bộ lông đuôi dài mềm mại . Sóc nâu sống trên cây thông đẹp nhất rừng thông . Sóc nâu và cây thông đã từ lâu gắn bó không rời . Cây thông âu yếm xòe tàn lá che chở cho sóc nâu tránh mưa tránh nắng . Sóc nâu leo lên tuột xuống thân cây , chạy ra chạy vào trên các cành cây , đùa nghịch với lá thông ,trái thông và chọn một chỗ thích nhất ngồi ăn hạt dẻ . Ngày Hai mươi tháng Giêng , sóc nâu và cây thông cùng nhau hát một bài nói về tình yêu và gia đình hạnh phúc , rồi sóc nâu rời khỏi khu rừng . Tiếng hát của sóc nâu rất nhỏ nên không ai nghe , còn tiếng hát của cây thông sau này được gọi là tiếng reo vi vu .
Có một cô tiên thích hóa thân thành một giò lan vàng tím áp sát vào thân cây tùng duy nhất đứng bên bờ suối . Giò lan vàng tím và cây tùng chung sống bên nhau thật đầm ấm , chia sẻ cho nhau từng tia nắng sáng và từng giọt sương khuya . Cho đến ngày mồng Năm tháng Năm giò lan vàng tím đã dồn hết tâm huyết nở ra một nụ hoa đẹp nhất đời nó để cây tùng được thưởng thức một hương thơm ngào ngạt không bao giờ có ở nơi đâu . Cùng lúc cây tùng dịu dàng thả rơi những chiếc lá xanh chạm nhẹ vào giò lan vàng tím . Đó là các tặng vật trao nhau thay cho lời ước hẹn ở tương lai , rồi giò lan vàng tím rời khỏi khu rừng .
Có hai cô tiên thích biến thành mây trắng bay chầm chậm vì ở giữa không trung mênh mông có hai chú rồng ngũ sắc uốn lượn trong mây , cùng mây trò chuyện và  vui đùa thỏa thích . Ngày mồng Hai tháng Chín , một cụm mây rời khỏi khu rừng và ngày Mười bốn tháng Chín cụm mây kia rời khỏi khu rừng . Rồng ngũ sắc không chấp nhận chia xa đã quyết tâm tìm đến thế giới mới của hai cô tiên này .
Có một cô tiên thích rong chơi vì cô yêu lá , yêu hoa , yêu thú rừng , yêu khung cảnh thiên nhiên , yêu cuộc sống của muôn loài . Cô không muốn ra đi cho đến khi Chúa Tiên xuất hiện thúc hối , rằng cha mẹ của Cô đang chờ đợi cô từng ngày , Cô là người con duy nhất của họ và nếu không có Cô thì cuộc sống của họ không còn hạnh phúc nữa . Vị Nữ thần gõ nhẹ lên bờ vai cô tiên một chấm tròn nhỏ xíu , và nói rằng người mang dấu ấn giống như cô sẽ cùng cô tiếp tục hưởng thụ những niềm vui bất tận . Tiên nữ bay một vòng cuối cùng nhìn lại xứ sở Thần tiên , vuốt ve gấu con và cọp con mới chào đời rồi ngày mồng Ba tháng Mười Hai rời khỏi khu rừng , mang theo bản tánh yêu đời , thích rong chơi và một chấm tròn nhỏ xíu trên bờ vai .
Có một cô tiên thích mùa Xuân nên rời khỏi khu rừng để đến với thế giới mới vào mùa Xuân , ngày mồng Bảy tháng Giêng năm sau .
Sau đó , sáu cô tiên đã gặp lại nhau và khắng khít với nhau đến tận bây giờ . Mỗi người đều thỏa nguyện với niềm hạnh phúc ngọt ngào, đúng như lời Chúa Tiên đã phán quyết ngày xưa . Còn xứ sở thần tiên và khu rừng nhỏ xinh xinh thì vẫn trường tồn . Riêng mụ Phù Thủy ngày càng độc ác nên đã phải chịu một sự trừng phạt nặng nề .
        Nguyễn thị Thanh Tịnh /2012
· Lời tác giả : Chuyện cổ tích này hoàn toàn là sản phẩm tưởng tượng , vì thế nên mong các bạn thông cảm với những điều không đúng thực tế.

Monday, October 8, 2012

Chuyện Thiền:" NGƯỜI CHO NÊN CÁM ƠN"

Chuyện Thiền:  " Người cho nên cảm ơn"
Lúc Seisetsu giảng dạy tại chùa Engaku ở Kamakura, thiền sư cần phòng ốc rộng hơn, vì nơi giảng dạy của thầy đã quá chật. Umezu Seibei, một thương gia ở Edo, quyết định là sẽ tặng 500 đồng vàng, gọi là ryo, vào việc xây trường rộng thêm. Umeza mang tiền đến cho thiền sư.

Tranh Tổ sư Bồ Đề Đạt Ma do thiền sư Seisetsu vẽ

Seisetsu nói: “Tốt lắm. Tôi sẽ nhận.”

Umezu trao bao vàng cho Seisetsu, nhưng không hài lòng với thái độ của thiền sư. Một người có thể sống cả năm với chỉ 3 ryo, nhưng thương gia này không nhận được cả một tiếng cám ơn.

“Trong bao đó có 500 ryo,” Umezu nhắc khéo.
“Anh đã nói cho tôi biết rồi,” Seisetsu trả lời.
“Dù tôi là một thương gia giàu có, 500 ryo vẫn là rất nhiều tiền,” Umezu nói.

“Anh muốn tôi cám ơn anh?” Seisetsi hỏi.
“Thầy nên làm vậy,” Umezu trả lời.

“Tại sao tôi nên cám ơn?” Seisetsu thắc mắc.
“Người cho nên cám ơn.”
.
Bình :

• Seisetsu Genjo Seki hay Seisetsu Genjyo Seki, (1877-1945), là thiền sư dòng Lâm Tế, từ thiền sư Hakuin mà ra. Trong thập niên 1920, Seisetsu là sư trụ trì của chùa Tenryu ở Nhật.

Chùa Engaku trong truyện này là một chùa Lâm Tế rất lớn, và là một danh lam thắng cảnh nổi tiếng cùa Nhật ngày nay. Chúng ta đã nói đến chùa Engaku trong bài Không nước không trăng về ni cô Chiyono.

• Bố thí là một thực hành lớn trong nhà Phật. Con đường Bồ-tát (Bồ Tát Đạo) có 6 nhánh qua sông (lục độ ba-la-mật), tức là sáu phương cách thực hành (“hạnh”) để đến giác ngộ, trong đó Bố thí là “hạnh” đầu tiên–Bố thí, trì giới, tinh tấn, nhẫn nhục, thiền định, trí tuệ. Cho đi cái mình có là cách đương nhiên nhất để thực hành “vô ngã” (“không có cái tôi”).

Bố thí thế nào? Kinh Kim Cang, đoạn 4 viết: “Bồ tát đối với pháp nên không có chỗ trụ mà làm việc bố thí, gọi là chẳng trụ nơi sắc để bố thí, chẳng trụ thanh hương vị xúc pháp để bố thí. 

Này Tu-bồ-đề, Bồ tát nên như thế mà bố thí, chẳng trụ nơi tướng. Vì cớ sao? Nếu Bồ-tát bố thí chẳng trụ tướng thì phước đức không thể nghĩ lường.”


Câu này có nhiều tầng triết l‎ý rất sâu xa, tuy nhiên nói giản dị theo cách sống hàng ngày của chúng ta thì câu này có thể hiểu là bố thí mà chẳng cầu gì cả, chẳng để được thấy tên mình trong danh sách (sắc), hay nghe được tên mình (thanh), hay tiếng tăm lừng lẫy của mình (hương), hay để nếm vị vinh quang của mình (vị), hay sờ được tên mình khắc trên bia đá (xúc), hay vì bất kỳ điều gì trong vũ trụ (pháp).

Bố thí với một tâm hoàn toàn rỗng lặng. Ngay cả dùng đạo pháp làm chủ đích của bố thí cũng không. Đoạn 14, Kinh Kim Cang viết: “Nếu Bồ-tát trụ nơi pháp mà làm việc bố thì thì ắt như người vào trong tối không thể thấy. Nếu Bồ-tát tâm không trụ pháp mà hành bố thí thì như người có mắt lại thêm ánh sáng mặt trời chiếu soi, thấy các thứ hình sắc.”

(Ghi chú: Bố thí không vì mình mà vì đạo pháp thì hay lắm rồi, vẫn hơn không. Nhưng bố thí mà vượt qua được cả tầng “vì đạo pháp” này mới là chân ngộ của Bồ tát).

Bố thí tự nhiên như hít thở. Bố thí tự nhiên như khát nước thì uống nước mà chẳng hề suy nghĩ gì. Đó mới là bố thí hạnh của Bồ-tát.

• Đương nhiên là bố thí mà cần cám ơn như Umezu là không nên rồi. Và đương nhiên là một câu cám ơn cũng chẳng tốn công gì mà thiền sư Seisetsu lại không thể nói một tiếng cho vui vẻ cả làng. Nhưng, có lẽ là thiền sư biết tâm tính Umezu và cố tình im lặng để dạy cho Umezu một bài học về Phật pháp.

Nhưng tại sao thiền sư nói “Người cho nên cám ơn”?

    Thưa, vì bố thí là hạnh Bồ tát, mà muốn thực hành hạnh này thì phải có người nhận. Nếu không có người nhận thì không thể làm việc bố thí được.

    Mang tiền ra vất ngoài sa mạc không phải là bố thí. Cho nên, người cho phải cám ơn người nhận đã tạo cho mình một cơ hội để thực hành hạnh bố thí.

   Chú ý, câu đầu tiên thiền sư nói khi Umezu mang tiền vào : “Tốt lắm. Tôi sẽ nhận.” Tức là, tôi cho chú cơ hội làm việc bố thí.

• Không nên xem đây là một cuộc đấu tranh tư tưởng giữa hai người, Umezu và thiền sư, xem ai thắng.

Đa số mọi người trong chúng ta đều như Umezu, đều muốn nghe cám ơn khi bố thí–không những cám ơn mà còn phải cám ơn trên radio, TV, báo chí, Internet thì mới hả dạ. Umezu chẳng ai xa lạ hơn là cái tôi của mỗi người chúng ta.

Nhưng điều chúng ta không biết, và thiền sư Seisetsu muốn dạy, là: "  Người cho, phải cám ơn người nhận."

Trần Đình Hoành dịch và bình




__._,_.___
 
.

__,_._,___

Sunday, October 7, 2012

TRANH VẼ THỨC ĂN NHƯ THẬT của TJALF SPARNAAY

Tranh vẽ thức ăn như thật của Tjalf Sparnaay
 
Artist Tzhalf Sparnaay (Tjalf Sparnaay) được sinh ra tại Hà Lan vào năm 1954, vào năm 1987 đã bắt đầu làm việc, mãi đến hôm nay là một họa sĩ thành công mà các tác phẩm của ông được triển lãm khắp nơi trên toàn thế giới.
Với lối vẽ tả thực rất chi tiết và thật tỉ mỉ Sparnaay đã tôn vinh những hình ảnh bình dị - cụ thể là các món ăn hàng ngày bằng cách làm cho nó trở nên xinh tươi và thú vị!
Sparnaay nói rằng ông hy vọng sẽ mang nụ cười đến với tất cả mọi người khắp nơi trên thế giới trong từng món ăn hàng ngày của mình!. Những bức tranh của Sparnaay đã mang đến cho người xem một sự đánh giá cao về sự tỉ mỉ
























 

Saturday, October 6, 2012

TRANH THIỀN

TRANH THIỀN
Tranh thiền là một loại tranh rất khó vẽ, đòi hỏi người vẽ có sức tập trung cao. Tranh vẽ trên một loại giấy rất mỏng dễ rách nên nét vẽ không thể dừng lâu ở một chỗ và cũng không thể bôi sửa vì sẽ làm rách giấy. Tranh thường vẽ bằng mực đen . Mỗi một nét vẽ cần phải có sự định thần và nét bút phải dứt khoát đều đặn thì bức tranh mới có thể thành công .
      Vẽ tranh thiền là một cách để các thiền sinh thể nghiệm sức định của tâm trí. Mục tiêu của tranh là thể hiện trạng thái của tâm . Tranh thường vẽ lên quan hệ giữa người và thiên nhiên mà lời nói không thể diễn tả được .
      Tranh là trạng thái tĩnh, biểu lộ cuộc sống rất thâm trầm nhưng quá trình hình thành một bức tranh lại là trạng thái động. Tranh "điệu múa sư tử" biểu hiện một con sư tử đang yên lặng nhập định nhưng quá trình mô tả của họa sĩ thì có lẽ đã phải quan sát không biết bao nhiêu trạng thái sư tử múa mới có thể vẽ được một bức tranh như thế. Bức tranh vẽ sự lặng im của biển cả với bãi cát trắng trải dài vô tận, họa sĩ có lẽ phải mất hết nửa đời người mới có thể
tìm được hứng khởi để phác họa trong chốc lát. Vậy mà cái hứng khởi đó đối với thiền giả chỉ cần nhón tay một cái, tùy ý tùy cơ có thể đạt được một cách dễ dàng.
      Tranh thiền đã xuất hiện ở Trung Hoa từ cuối đời Đường khi sang đến đời Tống thì nghệ thuật này phát triển khá mạnh. Tranh thiền được du nhập sang Nhật vào đầu thế kỷ 15 do sự phổ biến của Josetsu. Từ sau thế kỷ 15 thì kỹ thuật vẽ tranh thiền tại Nhật tiến thêm một bước nhờ vào việc phát triển các kỹ thuật vẽ mới của sư Sesshu Toyo (1420-1506). Đó là kỹ thuật "shin" để vẽ những nét gãy to, bén và kỹ thuật "sho" để vẽ các đường mờ dùng cho vẽ cảnh.
      Trong môn họa truyền thống của Trung Quốc ,chúng ta thường thấy những chủ đề ước lệ quen thuộc được thể hiện với màu sắc đậm nhạt hoặc tươi vui sặc sỡ. Các chủ đề này lặp đi lặp lại gần như nhàm chán và khai thác suốt nhiều thế kỷ qua, đại loại như hoa (đào, mai, lan, cúc, sen, thủy tiên, mẫu đơn, tử đằng, quỳnh), điểu cầm (phụng, ưng, hạc, két, quạ, chim cút, vịt trời, gà vịt, ngan ngỗng), muông thú (hổ, ngựa, lừa, trâu bò, dê, nai), vật truyền thuyết (long, lân), thuỷ tộc (tôm ,cá ,cua), côn trùng (bướm, chuồn chuồn, dế, bọ ngựa, sâu, kiến), cây cối (tùng bách, tre trúc, ngô đồng, dương liễu, phong), phong cảnh (mây nước sông biển, núi non, thác ghềnh, khe suối), trái cây, nhân vật (thật và truyền thuyết)... Chính vì thế nền hội họa Trung quốc lâm vào ngõ cụt , họa sĩ lúng túng trong mê lộ: bất kỳ ý tưởng
nào cũng là cũ kỹ mà các tiền bối đã khai thác hết rồi. Loại tranh này chẳng còn gì tân kỳ nữa, rốt cuộc chỉ là những màu sắc trang trí trong phòng thất .
thôithôi.    
  Kể từ khi thiền lớn mạnh ở Trung Hoa và du nhập vào Nhật Bản . Lối sống của thiền đã thổi vào hội họa truyền thống một luồng sinh khí mới . Tôn chỉ của thiền là phi - phương - tiện nên thiền họa cũng đơn giản tối đa tưởng chừng phi - nghệ - thuật, sự hướng nội, sự trống trải đầy gợi ý, sự viên mãn trong bất toàn , và được thể hiện theo phong cách đặc biệt : tiết giảm nét vẽ và chừa nhiều khoảng trống trên giấy (gọi là bút pháp một góc: one-corner style).
      Tranh Trung Quốc thường gọi là tranh Tàu có hai loại bút pháp trái ngược nhau: "công bút" và "ý bút", có thể độc dụng hay kiêm dụng trong tranh. "Công bút" là lối vẽ tỉ mỉ công phu trau
chuốt từng chi tiết nhỏ. "Ý bút" là bút pháp tả ý chấp nhận màu sắc, nhưng trong thiền họa bút pháp này ly khai màu sắc, chỉ có mực đen giấy trắng mà thôi. Người Nhật gọi là sumiye (mặc hội: vẽ bằng mực đen), Trung Quốc gọi là mặc họa. "Mặc" tức là mực đen, làm bằng bồ hóng và keo. Bút làm bằng lông các thú như dê, thỏ, chồn, sói và ngậm được nhiều mực. Giấy vẽ là loại giấy cực mỏng, đặc biệt là giấy Tuyên mà ta quen gọi là "xuyến chỉ". Từ đời Tống trở về trước, tranh Trung Quốc chủ yếu dùng lụa. Từ đời Tống về sau, do kỹ thuật làm giấy tinh xảo hơn, bắt đầu xuất hiện giấy Tuyên. Nói chung, vẽ sơn thủy và tả ý chủ yếu dùng giấy; vẽ nhân vật, điểu, hoa chủ yếu dùng lụa để dễ đạt sự tinh vi tỉ mỉ. Nhưng dù lụa hay giấy, cả hai đều là chất liệu lý tưởng vì hút mực dễ dàng. Điểm này khác hẳn lối họa sơn dầu Tây phương.
      Giấy mỏng , dễ rách được chọn làm công cụ để vẽ tranh nên đường nét cũng phải lướt đi thật nhanh , họa sĩ chỉ vẽ những gì thật cần thiết không thể nào dậm vá hay sửa chữa vì nếu dừng lại lâu giấy sẽ ẩm ướt và rách.
Mục đích của tranh thiền là họa sĩ phải tự do , không gò ép , để dòng cảm hứng
của mình trôi đi một cách tự nhiên. của mình trôi đi một cách tự nhiên . NéNéttvẽ dường như là một tổng thể của một sức mạnh huyền bí nào đó dẫn dắt đi , không để cho họa sĩ kiểm soát cảm hứng của mình . Ðấy là khả năng phi - kiểm - soát , một sự phi - kiểm - soát đầy khổ luyện. Nếu giữa bút và giấy có xen vào sự suy tư , lý luận nào đó, điều này sẽ phá hỏng họa phẩm. Chúng ta sẽ lầm nếu cho rằng bức tranh chỉ là những nét nguệch ngoạc cẩu thả vô lối. Đường nét của tranh thiền là cái gì bất toàn, nó bất chấp luật phối cảnh (perspective) và luật vẽ bóng (chiaroscuro) (phân biệt rõ cái gần với cái xa ...) - vốn là định luật cơ bản của lối họa Tây phương để dựng hình ba chiều. Tranh thiền từ bỏ quan niệm không gian, thời gian, tương đối và chủ quan ,điều cốt yếu là cái thần của sự vật phải thể hiện được trên giấy, do đó nét vẽ phải sống động như luồng sinh khí của một thực thể.
      Nếu so với lối họa Tây Phương có bố cục chặt chẽ và hệ thống thì tranh thiền nghèo nàn, hình thức sơ sài , đường nét giản lược . Thế nhưng chúng ta có thể nhìn thấy sau những nét chấm phá đơn giản, đậm nhạt , ẩn tàng một sức sống kỳ diệu . Màu đen đậm nhạt trên tờ giấy trắng tượng trưng cho Âm Dương làm nổi bậc lẫn nhau . Đen và trắng tượng
trưng cho cặp mâu thuẫn gay gắt trong thế giới nhị nguyên : đen- trắng , đúng -sai , tốt - xấu ,thiện - ác ,hạnh phúc - đau khổ ... Tư tưởng thiền là phá cái chấp đó bởi thế trong tranh với những nét đen trắng đậm nhạt ấy chừng như vô nghĩa : nhánh cây khô , cục đá, một bông huệ cô đơn , đều chuyển tải được sự sống một cách linh động . Một bông đào lay trong gió là hình ảnh mong manh nhưng đẹp đẻ trong cơn giông tố của cuộc đời . Một chiếc thuyền câu bé nhỏ trên mặt nước mênh mông cho ta ấn tượng hình ảnh biển cả bao la và sự hiện hữu một tâm hồn sâu kín hòa nhập vào cuộc sống vĩnh cữu giữa dòng đời dâu biển.
      Tranh thiền không phải là một sao bản , một hình chụp của thực thể . Một nét chấm hay một đường cong không tượng trưng cho con chim hay ngọn núi, mà nét chấm đó chính là con chim, đường cong đó chính là ngọn núi, bởi vì thiền họa phải là sáng tạo. Một sự vật trong tranh thiền phải giống - thực mà dường như không - giống - thực, phải tràn đầy mà dường như khiếm khuyết. Họa sĩ không phóng ra mọi nỗ lực để chụp nguyên hình sự vật, mà sáng tạo một sinh thể ngoài sự tưởng tượng của chúng ta. Thái độ của họa sĩ đối với nghệ thuật cũng là thái độ của thiền đối với cuộc sống. Đó là lý do tại sao hầu hết
các họa sĩ của tranh thiền đều là thiền sư hay thiền sinh.
      Nét bút của họa sĩ phải dứt khoát như tia chớp, không tô sửa , phải vừa táo bạo vừa nhẹ nhàng . Ðó là thần bút . Bởi thế cái thần trong bức họa là nét bút
của họa sĩ , nét nào đã phóng ra thì không bao giờ đồ lại . Nét đồ là nét chết. Do vậy một vật chỉ đẹp khi nó không bị ràng buộc hay câu thúc. Cái đẹp đó nằm trong sự buông xả. Bức tranh được hình thành trong cái tâm hư vô . Họa sĩ chụp bắt cái thần của sự vật đương lúc nó vận hành. Điều này có vẻ khó bởi vì vạn vật luôn vận động không bao giờ tĩnh tại. Nhưng họa sĩ thiền có thể làm được điều này nếu biết nắm bắt sự sống từ trong nội tâm hơn là bên ngoài.
      Họa sĩ tranh thiền không dùng màu sắc lòe loẹt , chỉ dùng màu đen khi đậm , khi nhạt . Chỉ có sự cực kỳ đơn giản mới tượng trưng được cái Hư Không . Hơn nữa màu sắc gợi lên một thực thể trong thiên nhiên mà tranh thiền chủ trương không mô phỏng giống hệt sự vật , vã lại trang giấy phẳng và màu sắc không đạt được nguyên dạng sự vật .
      Mặt khác , họa sĩ không được trì hoãn ngọn bút trong khi vẽ vì trì hoãn sẽ làm hỏng tờ giấy mong manh . Trì hoãn cũng có nghĩa là toan tính, thay đổi , điều nầy trái với tinh thần của tranh thiền . Nét bút phải xuất hiện đột ngột , bất chợt và bay đi vun vút như mất hút trên không trung . Nơi mà ta tưởng sẽ có một đường hay một chấm thì lại chẳng có gì cả. Nhưng sự thiếu vắng đó không gây thất vọng mà nó gợi ý mạnh mẽ hơn cho người xem. Cho nên tranh thiền có nhiều khoảng trống, thoáng và đầy gợi ý. Một trang giấy nhỏ có thể hàm ẩn cả vũ trụ. Một nét ngang ngụ ý cho sự mênh mông của không gian, một vòng tròn cho sự vĩnh hằng của thời gian, sự vô biên và sự sống . Những hình thức gây được nhiều gợi ý là những hình thức bất toàn và trống rỗng .
      Bước vào thế giới tranh thiền là bước vào thế giới vô cùng vô tận của vũ trụ , trong đó qua những hình ảnh và nét bút thô sơ người vẽ tranh muốn ký thác cho người xem một chân lý vi diệu vừa được khám phá. Đó là khoảnh khắc của sự bừng tỉnh, như căn phòng kín tối tăm đã lâu , nay được mở toang mọi cửa nẻo đón ánh sáng chói lọi của một ngày mới, như ngọn đèn vừa thắp lên sau bao tháng năm bỏ quên lăn lóc trong bóng tối âm thầm. Như vậy tranh thiền có thể xem như là một phương tiện chứng ngộ. Chức năng của tranh thiền giống với chức năng của công án thiền.
Tranh thiền




TRANH THIỀN
"Bồ Đề Đạt Ma"
Hakuin Ekaku





"Vòng tròn viên mãn"
Torei Enji



"Trúc trong gió"
Sengai Gibon





"Chăn trâu"
Tsuboshima Dohei




"Quả"
Thiền
sư Mục Khê
(1180-1250)




"Thiền sư nhập định"
Thạch Khác
( thế kỷ thứ 10)




"Quán tự tại"
Tranh thiền Trung Quốc





"Bồ Ðề Ðạt Ma"
Tranh thiền Trung Quốc





"Dòng chảy"
Tranh thiền hiện đại





"Thiền sư"
Tranh thiền hiện đại





"Ngồi thiền"
Tranh thiền hiện đại





"Suy tư"
Tranh thiền hiện đại





"Thác nước"
Wang Shi Ming


Thursday, October 4, 2012

VITAMINS F

Vitamins F

Tại sao tôi lại có nhiều bạn bè với những tính cách khác nhau? Làm sao tôi có thể đồng cảm với các bạn ấy?
Tôi nghĩ là mỗi một người bạn đã tạo ra những sự " khác biệt" trong tôi.
- Với một số bạn, tôi rất là lịch thiệp và với một số bạn khác thì tôi hay bông đùa.
- Tôi ngồi xuống và bàn chuyên với họ thật nghiêm túc và với những người bạn kia thì lại cười đùa thật thoải mái.
- Tôi lắng nghe tâm sự của một bạn và sau đó  nhận lại những lời khuyên từ bạn ấy.
- Tất cả các bạn của tôi giống như những mảnh của trò chơi lắp hình . Một khi đã xếp đầy đủ thì đó là một hộp đựng châu báu.
Một kho tàng bạn bè!
-Họ là những người bạn hiểu tôi hơn là tôi hiểu chính mình.
- Họ là những người bạn đã nâng đỡ, an ủi tôi khi vui hay buồn.
- Chúng tôi cùng cầu nguyện cho nhau.
Bác sĩ  nói với chúng tôi, những người bạn đem lại sức khỏe tốt cho chúng tôi.
 
Bác sĩ Oz gọi đó là Vitamins F ( for Friends) , tình bạn là một yếu tố cần thiết cho sức khỏe được tốt đẹp.
Sự nghiên cứu cho biết ,trong xã hội, người nào có nhiều bạn bè sẽ giảm bớt bệnh trầm cảm và tai biến mạch máu não.
 
Nếu các bạn luôn luôn thích thú với Vitamin F thì các bạn có thể trẻ lại 30 tuổi so với tuổi thật của mình.
Sự ấm áp của tình bạn có thể làm giảm 50% của sự căng thẳng, nhồi máu cơ tim cũng như tai biến mạch máu não.
Tôi rất sung sướng vì tôi đã dự trữ một số lượng loại Vitamin F này.
 
Nói tóm lại, chúng ta cần giữ liên lạc thường xuyên với các bạn của mình và tôn trọng họ.
Chúng ta cần tìm những nét lạc quan của mọi vấn đề để cùng nhau cười và cùng cầu nguyện cho nhau khi gặp nghịch cảnh.
 
Cám ơn các bạn đã là một trong những viên thuốc bổ của tôi.
 
Sưu tầm trên net.
 

Monday, October 1, 2012

CHIẾC LÁ SẠCH

CHIC LÁ SCH
Hiểu Kỳ

Có một thanh niên từ ngàn dặm xa xôi tìm đến đại sư Thích Tế chùa Nhiên Đăng thưa rằng :
- Con là một thư sinh luôn biết Tam cương-Ngũ thường.. từ xưa đến nay không bao giờ biết nói những lời vu khống bịa đặt, không gây ra chuyện thị phi, nhưng không hiểu vì sao luôn có người dùng lời ác độc chưởi bới con, dùng lời bịa đặt dơ bẩn hủy nhục con. Đến hôm nay, con thật sự không chịu nổi nữa, nên con muốn vào chùa cạo tóc làm tăng để xa lánh chốn bụi hồng, xin Đại sư hãy thâu nhận đệ tử !

Ngay ay em di

Đại sư Thích Tế yên lặng nghe chàng trai nói xong, bèn mỉm cười bảo rằng :
- Thí chủ hà tất vội vã, đợi bần đạo vào trong sân nhặt một chiếc lá sạch, thí chủ sẽ có thể biết được tương lai của mình và mình nên sẽ làm gì.

Đại sư dẫn chàng trai đến bên một con suối nhỏ chảy ngang qua chùa, tiện tay hái một lá trên cây xuống và bảo với một chú tiểu đi lấy dùm cho mình một cái thùng và một cái gáo múc nước.

Chú tiểu vội vàng mang thùng gỗ và chiếc gáo hồ lô đến trao cho Đại sư.
Thích Tế kẹp lấy chiếc lá sạch trong tay và bảo chàng trai :
- Thí chủ không gây ra chuyện thị phi, xa rời bụi trần, cũng giống như chiếc lá sạch trong tay bần đạo vậy.

Vừa nói, Thích Tế vừa đặt chiếc lá vào trong thùng, xong chỉ vào thùng nói :
- Nhưng hôm nay thí chủ không may gặp phải những lời chưởi bới, hủy nhục vây hãm vào trong giếng sâu khổ đau trần thế, có phải giống như chiếc lá sạch bị bỏ vào trong tận đáy thùng này hay không ?
Chàng trai thở dài gật đầu thưa :
- Thưa vâng, con chính là chiếc lá dưới đáy thùng.

Đại sư Thích Tế đặt thùng nước lên trên một tảng đá bên cạnh bờ suối, khom người múc một gáo nước dưới suối lên, nói :
- Đây là một câu chưởi bới dành cho thí chủ, với ý đồ muốn nhấn chìm thí chủ.

Vừa nói, vừa dội gáo nước lên trên chiếc lá trong thùng, chiếc lá chao động mạnh, sau đó lặng lẽ nổi lại lên mặt nước.
Đại sư khom lưng múc thêm một gáo nước kế tiếp, bảo rằng :
- Đây là câu chưởi bới độc ác của loại người thô lỗ thấp hèn dành cho thí chủ, vẫn với một mưu đồ là muốn nhấn chìm thí chủ như trước, vậy thí chủ hãy nhìn xem lần này chiếc lá sẽ như thế nào ?



Theo cách đã làm, Đại sư dội gáo nước lên chiếc lá, nhưng chiếc lá chỉ lắc lư và lại nổi lên trên mặt nước như cũ.
Chàng trai hết nhìn nước trong thùng, rồi lại nhìn chiếc lá nổi bềnh bồng, thưa với Đại sư :
- Chiếc lá không hề bị tổn hại, chỉ là nước trong thùng sâu, chiếc lá theo mực nước mà cách miệng thùng càng lúc càng gần..

Đại sư Thích Tế nghe xong, mỉm cười gật đầu, lại múc thêm một gáo dội lên chiếc lá, bảo chàng trai rằng :
- Lời nói bịa đặt hay xỉ mạ thấp hèn..không có cách nào đánh chìm được một chiếc lá sạch. Chiếc lá sạch bị chao động bởi những lời nói vu khống, hủy báng dội lên thân nó, nhưng nó không những không bị chìm xuống dưới đáy, ngược lại tùy theo mức gia tăng của nước ( những lời nói vô bổ, tùy tiện và thô lỗ ), khiến nó càng nổi lên cao, từng bước từng bước xa rời đáy thẳm.

Đại sư vừa nói, vừa tiếp tục đổ nước vào thùng, thoáng chốc nước tràn đầy, chiếc lá rốt cuộc đã nổi lên trên mặt thùng.
Chiếc lá rực rỡ, giống như một chiếc thuyền lá nhỏ, nhẹ nhàng nhấp nhô, lắc lư theo dòng nước.

Đại sư Thích Tế ngắm nhìn chiếc lá cảm thán rằng :
- Nếu lại có thêm những lời vu khống thô lậu, hủy báng thấp hèn, thì càng tuyệt.

Chàng thanh niên nghe xong, không hiểu thâm ý, bèn thưa với Đại sư rằng :
- Vì sao Ngài lại nói như thế ?

Thích Tế cười, múc thêm hai gáo nước, dội lên chiếc lá trong thùng, nước trong thùng tràn ra bốn phía, lôi theo chiếc lá xuống tới dòng suối, chiếc lá nhập dòng ung dung trôi đi.
Đại sư bảo chàng trai :
- Những lời bịa đặt, vu khống, xỉ mạ thấp hèn bỉ ổi ..rốt cuộc sẽ giúp cho chiếc lá vượt thoát được vòng kiềm tỏa, hướng đến sông dài, biển lớn và những phương trời cao rộng thênh thang.

Chàng thanh niên hốt nhiên tỏ ngộ, vui mừng khấu tạ Thích Tế :
- Thưa Đại sư, con đã hiểu rõ rồi, một chiếc lá sạch sẽ không bao giờ bị nhấn chìm xuống đáy nước. Những lời nói vu khống bịa đặt, hủy báng sỉ nhục chỉ có thể giúp gội rửa một tâm hồn vốn đã trong sạch, lại càng trong sạch thêm mà thôi.

Đại sư Thích Tế mỉm cười hoan hỷ.


http://nguyenuyenthu.vnweblogs.com/gallery/10044/L%C3%A1%20c%C3%A2y%20v%C3%A0ng%20v%C3%A0%20%C4%91%E1%BB%8F%20r%E1%BB%B1c%20soi%20m%C3%ACnh%20trong%20d%C3%B2ng%20n%C6%B0%E1%BB%9Bc%20%E1%BB%9F%20h%E1%BA%BBm%20n%C3%BAi%20trong%20c%C3%B4ng%20vi%C3%AAn%20qu%E1%BB%91c%20gia%20Zion%20%E1%BB%9F%20Utah%20(M%E1%BB%B9).%20M%E1%BB%99t%20b%E1%BB%A9c%20tranh%20th%E1%BB%A7y%20m%E1%BA%B7c%20tuy%E1%BB%87t%20%C4%91%E1%BA%B9p..jpg

Saturday, September 29, 2012

EM TÔI: LÊ TRẠCH LỰU và MỐI TÌNH THEO MÃI MỘT ĐỜI

Em tôi: Lê Trạch Lựu và mối tình theo mãi một đời
"Em tôi" ra đời đầu năm 1953 đến nay vẫn tiếp tục đem đến cho người nghe những xúc cảm như gần, như xa của một thời tưởng như đã thuộc về dĩ vãng nhưng vẫn tiếp tục làm rung động trái tim những thính giả trẻ tuổi ở thế hệ bây giờ. Đằng sau ca khúc lãng mạn này là một cuộc tình mang theo từ thuở vừa biết yêu cho đến tuổi xế chiều khi nhạc sỹ sáng tác "gặp" lại người xưa qua đường dây điện thoại viễn liên. Hôm nay nhạc sỹ Lê Trạch Lựu nói về câu chuyện tình đã đưa chúng ta đến với "Em Tôi" .

Nhạc sỹ Lê Trạch Lựu
Lê Trạch Lựu rời Việt nam thời loạn ly năm 1951, bỏ lại sau lưng một mối tình, không hiểu người yêu của mình ở phương nao khi mà khói lửa, chiến tranh, tản cư, ly tán đã đẩy mọi người vào tình huống chẳng biết những người thân của mình còn sống hay đã chết. Ở Pháp, theo học nốt bậc trung học rồi vào ngành điện ảnh và làm truyền thông, ông vẫn nhớ hình bóng cũ, cô thiếu nữ tên Phượng mà ông đã gặp lần đầu trong một chuyến đi cắm trại của đoàn hướng đạo ở Sầm Sơn. Chiều nào, qua khung cửa sổ, ông cũng nhìn thấy cô gái ngồi giặt áo bên bờ giếng, người cao, trắng trẻo, đôi mắt thật đẹp đến nỗi chàng thanh niên mới lớn thấy ngây ngất như lên cơn sốt rồi mới chợt nhận ra: "chao ơi tình yêu là thế hay sao?" .
Trở về Hà Nội, ông may mắn tìm biết được địa chỉ của người mà ông say đắm. Liên tiếp trong 3 tháng trời ông viết cho cô Phượng gần 70 lá thư mà không được trả lời. Cậu em trai của cô Phượng, chú Mỹ đóng vai chim xanh đưa thư cho ông. Cho đến một ngày ông được người trong mộng hồi âm, rằng cô rất yêu ông nhưng muốn thử lòng xem ông có phải là người nghiêm túc hay không, và lúc đó là 1 tuần lễ trước ngày toàn quốc kháng chiến. Sau đó thì gia đình cô Phượng tản cư về Hà Đông. Từ Hà Nội ông tìm đến thăm cô Phượng. Thân mẫu của hai người cũng là chỗ quen biết và hai người đã cùng nhau đi chơi suốt buổi chiều bên ven sông, dưới sự... giám sát của cậu em cô Phượng! Hạnh phúc, đến nỗi hai người nói chuyện gì ông không thể nhớ, chỉ nhớ rằng hạnh phúc như chưa bao giờ được hạnh phúc như vậy, duy có một điều ân hận, là ông chưa hề nắm lấy bàn tay của người yêu, dù chỉ một lần. 
Rồi chiến tranh, gia đình Phượng tản cư, mất liên lạc, ông sang Pháp. Tháng ngày qua, ở Pháp, cũng là thời gian mà nỗi nhớ quay quắt đã là nguồn suối trào dâng để một ngày, bên những bạn bè như Nguyên Sa, Hoàng Anh Tuấn, ông bấm lên phím đàn, đưa "Em Tôi" vào đời. Ông cho biết: "Mối tình đối với cô theo tôi suốt đời, vì rằng đó là mối tình đầu, mà mình không biết nhau ở đâu, không biết người ta sống hay chết, tôi nhớ đến cô và tôi đã làm bài 'Em Tôi'." Bẵng đi một thời gian dài, một hôm tình cờ tìm lại được địa chỉ ở Hà Nội của Phượng, ông viết thư về cho cậu em thử hỏi thăm, thì được hồi âm rằng chị của cậu chờ đợi mãi, bao nhiêu đám hỏi mà không nhận lời, sau này ngỡ ông đã chết cô lập bàn thờ, để tang ông 2 năm, nhưng sau vì gia đình thúc giục và đã 26 tuổi, phải có con, cô đành đi lấy chồng. Từ đó ông im lặng, cắt đứt để cho người cũ yên ấm bên chồng con. Về phần cô Phượng, người chồng cô cũng chấp nhận là cô có một mối tình trước, hết sức cảm thông. Nhưng đôi khi thấy vợ buồn, ông khuyên vợ để ông cất những lá thư và hình cảnh cũ, đến bao giờ vui hãy mở ra xem. Thế rồi ông mất, những lá thư xưa không tìm lại được nữa.  Mãi đến cuối năm 2009, 60 năm sau, ông liên lạc được một người bạn cũ từ bao năm ở lại Hà Nội, và chính người bạn này đã giúp nhạc sỹ họ Lê tìm ra số điện thoại của người xưa. Qua đường dây điện thoại ông đã gọi về thăm hỏi bà. Bà không thể tin là ông còn sống, nhắc đi nhắc lại 3 lần như ngỡ trong mơ "anh Lê Trạch Lựu đấy ư?". Ông tâm sự tiếp:"Bây giờ chúng tôi nói chuyện với nhau. Tình ngày xưa xa lắc xa lơ. Cô đã đi lấy chồng, mà tôi đã lấy vợ, bây giờ chỉ coi nhau như bạn già thôi. Quí nhau, kính trọng nhau, chứ không nghĩ đến tình yêu ngày xưa nữa. Không thể nào lập lại thời đó được. Nhưng hai người vẫn rất quí nhau, tôi vẫn thường gọi cho cô, hay cô có gọi tôi, nhưng mà ăn nói như hai người bạn thân thôi." 
 Từ ngày rời Hà Nội năm 1951, nhạc sỹ họ Lê chưa một lần trở lại quê hương. Ông lập gia đình với một người vợ Pháp, gốc Ba Lan, mà theo lời ông thì bà là người rất đẹp, đoan trang, miệng cười tươi như hoa, và ông nhận là số ông may mắn, từ người yêu đến người vợ ai cũng đoan chính. Thời còn trẻ cũng có người bạn rủ ông về miền nam làm việc, và hãng thông tấn Pháp cũng muốn ông về để lập một cột trụ ở bên đó, nhưng nhạc sỹ họ Lê tâm sự:"Tôi nghĩ rằng hồi đó tôi có đứa con nhỏ nhất mới 3 tuổi, nếu tôi về Việt Nam tôi sẽ mê một cô Việt nam, tôi sẽ lấy cô Việt Nam, sống với cô Việt Nam thì tôi sẽ không trở lại Pháp nữa. Tôi tự nghĩ: mình sinh ra con, mình không nuôi con, mình bỏ nó, sung sướng với cuộc sống của mình, rồi sau này con mình nó nhìn mình bằng cách gì mình không thể sống được. Vì thế tôi không đi. Mà nếu tôi đi, thì cũng không thể trở về được, nghề của tôi là ra chiến trường quay phim. Tôi vui thích với nghề đó lắm, mà có thể chết được, nên về thì không thể nào trở lại được nữa." 
 Trong buổi nói chuyện với nhạc sỹ Lê Trạch Lựu, năm nay đã trong lứa tuổi bát tuần, ông có cho biết về những sáng tác khác của ông, những ca khúc đã bị cái bóng của "Em Tôi" che mờ:  "Nhạc của tôi người ta không biết nhiều, người ta chỉ biết đến 'Em Tôi' thôi. Ở Hà Nội, ông Thẩm Oánh có ra một bài của tôi là bài 'Thôn Chiều', ông ấy quí bài đó lắm. Sang Pháp, nhớ quê hương, tôi làm bài 'Nhớ' được trình bày trên đài phát thanh Hà Nội, và Sài Gòn sau này. Bài thứ ba là bài 'Em tôi'. Bài 'Em Tôi' được người ta quí trọng nó quá nên thên hạ quên mất 'Nhớ' và 'Thôn Chiều'."  Khoảng 20 năm sau khi "Em Tôi" ra đời, vẫn nỗi nhớ người xưa, nhạc sỹ họ Lê đã sáng tác "Cành Mai Tóc Ngắn". Cũng trong buổi nói chuyện, nhạc sỹ Lê Trạch Lựu có lời nhắc những ai yêu mến ông xin để ý cho 3 chỗ trong lời nhạc của bài "Em Tôi" mỗi khi hát:  1. Cho anh gót thắm đem dệt nhớ nhung lời thơ (không phải "rót thắm" hay "góp thắm"); Ông giải thích: người đàn bà xưa ăn mặc kín đáo, quần chùng áo dài, gót sen của nàng là nguồn xúc cảm, gợi trí tưởng tượng, chứ không lộ liễu như bây giờ. 2. Đèn trăng phô sắc huy hoàng sáng hơn màu nắng (không phải là "đàn trăng"). 3. Này trăng, này sao chia nhé em (không phải là "này trăng, này sao kia nhé em"). Quí vị có thể vào cothommagazine.com để nghe 1 số nhạc phẩm khác của nhạc sỹ Lê Trạch Lựu.

Friday, September 28, 2012

Thiếu nữ bên hoa huệ - họa sĩ Tô Ngọc Vân

Thiếu nữ bên hoa huệ - hoạ sĩNgọc Vân

 Phân tích giá trị nghệ thuật của tác phẩm mỹ thuật tiêu biểu
           1 Thiếu nữ bên hoa huệ ( sơn dầu-1943)

               
         “Thiếu nữ bên hoa huệ” là một bức tranh miêu tả dáng một thiếu nữ Hà thành nghiêng nghiêng thật tự nhiên, uyển chuyển, tay vờn nhẹ cành huệ trắng tinh khiết. Những hòa sắc và đường nét, hình khối giản dị của bức tranh toát lên một nét buồn vương vấn, nhẹ nhàng, không duyên cớ. Khi mà mọi người biết đến bức tranh, “Thiếu nữ bên hoa huệ” (1943), một kiệt tác của danh hoạNgọc Vân, giá trị thẩm mỹ đã như một liều thuốc hữu hiệu gỡ bỏ một số định kiến xã hội lúc đương thời.Trong những năm 1920 xã hội Việt Nam có nhiều chuyển biến sâu sắc ở thành thị cuộc sống tư sản hoá đã thắng lợi và ổn định, đời sống về mặt tinh thần củng được đòi hỏi với nhu cầu tiếp cận với nền văn minh phương tây đặc biệt là Pháp đã ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống tinh thần của cư dân này điều đó ảnh hưởng nhiều đến những giá trị truyền thống của người Việt Nam. Trong môi trường ấy, các tầng lớp và giai cấp ở thành thị-tư sản và công nhân, tiểu thương, tiểu chủ, công chức, dân nghèo thành thị, tri thức tân học và nhà nho cho tới các cô sen, cậu bồi- tuy rất khác nhau về mức sống  thậm chí đối lập nhau về thái độ đối với chế độ đương thời, vẫn gần nhau về những nét tâm lí và thị hiếu: thích đua đòi, ăn chơi hưởng lạc, muốn sống và giải trí trong môi trường náo nhiệt, khao khác cái lạ, cái đang đổi thay. Tầng lớp trên của xã hội này có lối sinh hoạt theo văn minh phương Tây với những phương tiện mới và hiện đại: Họ đi ô, ở nhà lầu, dùng quạt điện, mặc áo vét đi giầy bít, đi nghe hòa nhạc và xem phim... Thời trang cũng được thay đổi theo từng năm. Cũng với những thay đổi sinh hoạt là các thay đổi về ý nghĩ và cảm xúc. Nhiều giá trị bền vững của truyền thống bị giới trẻ coi thường, thậm trí còn mang ra chỉ trích. Chính hiện tượng đó ngày càng lớn khiến một số nhà tri thức củ lo lắng “ thế đạo nhân tâm” bị suy sụp do phát triển xã hội không gắn liền với yêu nước. Vì thế chiếc áo dài truyền thống lúc này là một nét văn hoá tiêu biểu cho cái hồn của dân tộc. Hình ảnh người phụ nữ Hà thành trong trang phục áo dài là một nét đẹp cổ kính nhưng lại rất quyến rũ đã tạo nên nét đặc sắc riêng trong xu hướng thời trang tây hoá ồ ạt vào lúc này. Tuy nhiên phần đông áo dài phụ nữ thành thị đều may theo thể năm thân, hay năm tà. Mỗi thân áo trước và sau đều có hai tà, khâu lại với nhau dọc theo sống áo. Thêm vào đó là tà thứ năm ở bên phải, trong thân trước. Tay áo may nối phía dưới khuỷu tay vì các loại vải ngày xưa chỉ dệt được rộng nhất là 40cm. Cổ, tay và thân trên áo thường ôm sát người, rồi tà áo may rộng ra từ sườn đến gấu và không chít eo. Gấu áo may võng, vạt rất rộng, trung bình là 80cm. Cổ áo chỉ cao khoảng 2 - 3cm Riêng ở miền Bắc đặc biệt là Hà thành khoảng năm 1910 - 1920, phụ nữ thích may thêm một cái khuyết phụ độ 3cm bên phải cổ áo, và cài khuy cổ lệch ra đấy. Cổ áo như thế sẽ hở ra cho quyến rũ hơn và cũng để diện chuỗi hột trang sức nhiều vòng. Phần nhiều áo dài ngày xưa đều may kép, tức là may có lớp lót. Lớp áo trong cùng thấm mồ hôi, vì thế được may đơn bằng vải mầu trắng để không sợ bị thôi mầu, dễ giặt. Một áo kép mặc kèm với một áo lót đơn ở trong đã thành một bộ áo mớ ba. Quần may rộng vừa phải, với đũng thấp. Thuở đó, phần đông phụ nữ từ Namra Bắc đều mặc quần đen với áo dài, trong khi phụ nữ Huế lại chuộng quần trắng. Trong các thập niên 1930 và 1940, cách may áo dài vẫn không thay đổi nhiều, gấu áo dài thường được may trên mắt cá khoảng 20cm, thường được mặc với quần trắng hoặc đen và những gì khác biệt với những chuẩn mực đó đã bị các nhà tri thức khó tín cho là lai căng và sính ngoại. Hình ảnh cô gái trong bức tranh Thiếu nữ bên hoa huệlà hình ảnh chiếc áo dài đã được cách tân, với chiếc áo dài này tuy đã che đậy tất cả, mà lại chả giấu giếm tý gì: phía trên, như một lớp da thứ hai, dán chặt vào bộ ngực và cánh tay. Cổ đượcn lên bởi một vòng cổ áo đứng. Và từ thắt lưng trở xuống, được xẻ làm đôi, tà áo nhẹ bay, uốn lượn tới gần đầu gối. Dưới đó là chiếc quần rộng, một màu, rất kính đáo nhưng cũng không kém phần quyến rũ khin lên những đường cong gợi cảm của người phụ nữ.Ngọc Vân vẽ bức “Thiếu nữ bên hoa huệ” là chủ động biểu hiện hệ đối tượng: thiếu nữ - hoa huệ. Thiếu nữ má hồng tân thời e ấp làm dáng. Sự chuyển động hình thể của cô gái cho thấy một sức sống tươi trẻ và trong sáng tuổi đôi mươi yêu cái đẹp. Búp tay tay nõn nà nâng nhẹ cánh hoa trắng tinh. Những cử chỉ động tác đều toát lên những cảm xúc lay động. Cái đẹp đã xua đi ác cảm về cái gọi là a dua, sính ngoại, lai căng. Nếu không "bước" vào trong bức tranh này, tà áo dài cách tân và cô gái duyên dáng ấy vẫn còn bị xì xào, lườm nguýt bởi sự khắt khe của lề thói văn hóa thẩm mỹ truyền thống. Những bóng hồng yêu kiều đó thường bị coi là lai căng. Nhưng nay, hình như trong mắt ai ai đều thừa nhận đó lại là một vẻ đẹp nữa của dân tộc. Áo nâu bạc màu, những cô hàng xén răng đen, đàn bà chân đất váy quay cồng hay những nón thúng quai thao, rồi đến tà áo dài tân thời... đều có vẻ đẹp và những giá trị riêng của nó.
Với nền mỹ thuật Việt Nam hiện đại, cụm từ “thiếu nữ và hoa” dường như đã đi vào tiêu chuẩn. Quả thật có một thuật ngữ dân gian: “chim - hoa - cá - gái”như là thương hiệu được xây dựng quá vững chãi từ các bậc tiền bối họa sĩ Đông Dương. Những bậc lão làng như Lê Phổ, Nguyễn Gia Trí, Trần Văn Cẩn, Mai Trung Thứ. . . đã vô cùng điêu luyện và nổi danh với những tác phẩm về thiếu nữ cùng với hoa. Nhưng ở “Thiếu nữ bên hoa huệ” thìNgọc Vân đã tiếp nối các tiền bối làm cái đẹp đó trở nên phổ quát hơn nữa. Giai đoạn đầu, thiếu nữ và hoa đã từng xuất hiện ở tranh của họa sĩ danh tiếng Lê Phổ trong những khung cảnh đầy ảo mộng tran hòa với cỏ cây hoa lá. Lê Thị Lựu và Mai Trung Thứ cũng cùng một tiếng nói khi đặt nhân vật và những vật thể vào không gian trong tranh. Thường bắt gặp nhưng cô gái lơ đãng, những cặp mắt không đến một đích nào đôi khi man dại và mộng mị. Những đóa hoa trong một số bức tranh lược tả một cách lập lòe, hoặc những khóm hoa lẫn vào trời đất đầy huyền hoặc. Thẩm mỹ này dẫn đến lỗi vẽ phân rã hình thể, đôi khi mất hình. Trong những thập niên đầu của thế kỷ 20, đề tài quen thuộc này được thể hiện như là một sự nhất thể hóa của cái đẹp. Tức là trong tranh phải có cái gì đẹp và quyến rũ người xem. Các nhân vật và đối tượng trong tranh không nhất thiết phải nói nên danh tính của mình.Ngọc Vân và những họa sĩ cùng trang lứa đã có những biểu hiện khác so với các bậc họa sĩ đàn anh. Vẫn đề tài đó, nhưng với một tinh thần tươi tắn và có tính hiện thực hơn.Cô gái Hà thành ngồi vén tóc bên những đoá hoa huệ thơm ngát màu chủ đạo trong tranh là màu trắng của áo dài và của những bông hoa huệ. Người phụ nữ được ông thể hiện với lòng trân trọng trước đối tượng, không sa vào khoái cảm nhục thể, hay cũng không quá mơ hồ, ẻo lả, kiêu sa như người phụ nữ trong tranh của các họa sĩ đương thời.
Ngọc Vân tiếp nhận xuất sắc phương pháp tạo hình và sử dụng chất liệu sơn dầu từ các vị thầy người Pháp.Ông đã tiếp thu thành công  trong việc hoàn thiện và phát triển kỹ thuật vẽ chất liệu sơn dầu. Màu sắc sơn dầu đã trong trẻo tươi sáng hơn, có độ bóng đẹp, không thấm nước, bền vững và chịu được thử thách của thời gian.Với ưu thế của mình, sơn dầu được sử dụng rộng rãi, được dùng hầu hết các hoạ sĩ sử dụng một cách phổ biến. Tuy nhiên có thể nói, với hoạ sĩNgọc Vân việc hoàn thiện kĩ thuật vẽ tranh sơn dầu là một cuộc cách mạng kỹ thuật lớn, làm chuyển biến và nâng cao nghệ thuật vẽ tranh của ông.Việc đó giúp ông thực hiện được nhiều tác phẩm lớn, bất tử, đặc biệt là bức tranh Thiếu nữ bên hoa huệ. bức tranh diễn đạt được vẻ đẹp nền nã, kín đáo, thanh lịch của người phụ nữ Hà thành thời tiền chiến - một vẻ đẹp đã mãi mãi chỉ còn trong tâm tưởng và hoài cảm.
                                                                                                            Nguyen Dat

Kiệt tác Thiếu nữ bên hoa huệ vẽ năm 1943 có lẽ cũng mang số phận long đong của người đàn bà đẹp. Theo GS-TS Tô Ngọc Thanh, trưởng nam của họa sĩ Tô Ngọc Vân thì: “Khi gia đình đi kháng chiến, bức Thiếu nữ bên hoa huệ được để lại trong nhà chúng tôi ở ngõ Trại Khách, phố Khâm Thiên, nay là ngõ Thổ Quan. Đến khi hòa bình trở về Hà Nội thì bức họa đã trở thành sở hữu của nhà sưu tập nổi tiếng Đức Minh. Ông Đức Minh nói là mua lại của một người khác. Nghe nói khi ông Đức Minh qua đời thì các con ông bán bức tranh với giá 15.000 USD. Lúc ấy chúng tôi đã báo cáo việc này với ông Bộ trưởng Bộ Văn hóa và đề nghị Bảo tàng Mỹ thuật mua lại. Đáng tiếc là Nhà nước khi đó không thể chi món tiền lớn hơn định mức quy định nên câu chuyện rơi vào im lặng, để bức tranh vào tay nhà sưu tập sống ở Singapore, hình như (tôi không được biết chính xác) tên Hà Thúc Cần...”.
“Tôi không bảo đảm những điều nói trên là hoàn toàn đúng vì việc mua bán là việc riêng của hai bên, nên tôi không có cơ hội được tiếp cận, nhưng đó là tất cả những gì tôi được biết về sự việc này” - GS-TS Tô Ngọc Thanh thận trọng cho biết. 


Bức tranh Thiếu nữ bên hoa huệ
Bức tranh được treo ở Singapore rồi tiếp tục phiêu lãng. Thế là mấy mươi năm người Việt không còn được ngắm nguyên bản Thiếu nữ... mang nét buồn quý phái cúi xuống bông hoa trắng muốt kia nữa. Tất cả những bản in trong sách báo không đồng nhất. Cả bức in trên logo triển lãm nhân 100 năm Tô Ngọc Vân cũng là bản chép. Rồi thì trên thị trường tranh nhái, đi đâu cũng thấy Thiếu nữ bên hoa huệ. Nhiều bức sơn dầu vẽ giống 99%, giống đến cả chữ ký dưới tranh... Thiếu nữ bên hoa huệ có lẽ đã “nuôi” không biết bao nhiêu người chép tranh từ bấy đến nay!?
Có tin hiện nay, kiệt tác ấy của cố danh họa Tô Ngọc Vân đã trở về Việt Nam và hiện đương được một nhà sưu tập ở Hà Nội sở hữu với giá lên đến 200 ngàn USD. Chủ sở hữu bức tranh đã có lần muốn nhờ họa sĩ Tô Ngọc Thành (người con trai thứ của Tô Ngọc Vân) đến thẩm định hộ nhưng anh từ chối vì sợ là có thể nhìn thấy bức tranh Thiếu nữ... giả, khi đó điều đáng sợ nhất có thể xảy ra là sự sụp đổ của chủ nhân...
(Trích Báo TT&VH)